Công ty luật Supergreen

Gọi ngay:

028 38953390 - 0903 642382 (Hot line)
Loading...

Có hai sức mạnh mang đến sự yên ổn: pháp luật và đạo đức 
-Geothe (Đức)-

Loading...
  • American
  • Viet Nam

HÌNH SỰ

Đánh bạc bao nhiêu thì bị phạt tù ? Mức xử phạt hành chính tội đánh bạc là bao nhiêu?

Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật có giá trị từ hai triệu đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới hai triệu nhưng đã bị kết án về tội này hoặc tội chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 5 triệu đến 50 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm, nếu quy mô lớn thì có thể từ 5 năm đến 10 năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ hai năm đến 7 năm: có tính chất chuyên nghiệp; tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc có giá trị từ 50 triệu đồng trở lên; tái phạm nguy hiểm, nếu thu lợi bất chính lớn hoặc rất lớn có thể lên đến 10 năm.

 

Cá độ giải trí có bị xử lý không?

Xử phạt vi phạm hành chính: căn cứ điểm c khoản 2 và khoản 6 Điều 26 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ, hành vi cá cược bằng tiền hoặc dưới các hình thức khác trong hoạt động thi đấu thể thao, vui chơi giải trí, các hoạt động khác có thể bị phạt tiền 1-2 triệu đồng; hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có.

Căn cứ điểm d khoản 5 và khoản 6 Điều 26 Nghị định nêu trên, hành vi tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao, vui chơi giải trí hoặc dưới các hoạt động khác để đánh bạc, ăn tiền có thể bị phạt 10-20 triệu đồng; hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện vi phạm hành chính và tịch thu tiền do vi phạm hành chính mà có.

Trách nhiệm hình sự: căn cứ Điều 321 BLHS, người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; hoặc dưới 5 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này; hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này (tộiTổ chức đánh bạc hoặcGá bạc); hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền 20-100 triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 7 năm. Hình phạt bổ sung là phạt tiền 10-50 triệu đồng.

Căn cứ Điều 322 BLHS, hành viTổ chức đánh bạcquy định tại điều này có thể bị truy tố trách nhiệm hình sự với hình phạt tiền 50-300 triệu đồng; hoặc phạt tù 1-10 năm; hình phạt bổ sung là phạt tiền 20-100 triệu đồng, hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Như vậy, tùy vào mức độ của hành vi mà cơ quan chức năng sẽ xử lý nếu nhận được tố giác hoặc thông qua hoạt động kiểm tra phát hiện ra hành vi vi phạm. Cụ thể:

- Nếu bạn mới tham gia cá cược một lần, và số tiền chỉ vài trăm nghìn đồng (dưới 5 triệu), thì bạn có thể bị xử phạt 1-2 triệu đồng. Trường hợp bạn đã từng bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này, hoặc số tiền cá cược từ 5 triệu đồng trở lên, bạn có thể bị truy tố theo Điều 321.

- Nếu bạn không chỉ tham gia mà còn có vai trò tổ chức các trận cá cược online thì chế tài đối với hành vi này sẽ nặng hơn. Cụ thể, hành vi tổ chức cá cược trong hoạt động thi đấu thể dục thể thao mà số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá dưới 5 triệu đồng sẽ bị xử phạt 10-20 triệu đồng. Trường hợp số tiền hoặc hiện vật dùng đánh bạc trị giá từ 5 triệu đồng trở lên, bạn có thể bị truy tố theo Điều 322.

Quấy rối tình dục có vi phạm pháp luật hình sự hay không? Nếu có sẽ bị xử lý ra sao?

Về trường hợp quấy rối tình dục theo pháp luật Việt Nam thường chỉ dừng lại ở mức phạt hành chính ( 100.000đ – 300.000đ)
Tuy nhiên nếu như  có hậu quả đó là nạn nhân cảm thấy vô cùng nhục nhã, tủi hổ thì sẽ bị truy tố hình sự ( Điều 121 Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2009 về “Tội làm nhục người khác”)
Ngoài ra , để khép vào tội xâm phạm tình dục cần có yếu tố đi đến sự giao cấu hoặc là cấu thành hình thức hướng đến sự giao cấu.

Tội Cố ý gây thương tích hoặc hây tổn hại cho sức khỏe của người khác sẽ bị xử lý thế nào?

Thứ nhất, Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015sửa đổi bổ sung năm 2017 quy định về Tội Cố ý gây thương tích hoặc hây tổn hại cho sức khỏe của người khác sẽ bị xử lý như sau:

- Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại Khoản 1 Điều này như: dùng hung khí nguy hiểm; dùng hóa chất nguy hiểm; phạm tội đối với 02 người trở lên;…thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 05 năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt tù từ 04 năm đến 07 năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, d, đ, e, g, h, i, k, l, m, n và o khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 12 năm.

- Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, nếu không thuộc trường hợp quy định tại điểm c khoản 6 Điều này hoặc dẫn đến chết người, thì bị phạt tù từ 10 năm đến 15 năm.

 

- Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân: Làm chết 02 người trở lên; gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khỏe cho 02 người trở lên mà tỷ lệ tổn thương cơ thể của mỗi người 61% trở lên; gây thương tích vào vùng mặt của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên.

- Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

Như vậy, theo quy định của pháp luật, về cơ bản, thì hành vi cố ý gây thương tích sẽ bị khởi tố hình sự theo khoản 1 Điều 134 nêu trên, nếu mức độ thương tích từ 11% đến 30%.

Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi gây thương tích mà có một trong các các điều kiện được quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự 2015 thì dù mức độ thương tích dưới 11% vẫn có thể bị khởi tố hình sự.

Tuy nhiên, Bộ luật Hình sự cũng quy định người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp như dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người; Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân; Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1, Điều 134.

Khi xác định được đầy đủ các dấu hiệu của tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền sẽ truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc áp dụng hình phạt sẽ do cơ quan tố tụng xem xét, quyết định. Bên cạnh việc có thể phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật thì người nào bị truy tố còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại tức là người phụ nữa bị đánh kia do sức khỏe bị xâm phạm. Thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm được bồi thường được quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Bao gồm:

- Chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại bao gồm: tiền thuê phương tiện đưa người bị thiệt hại đi cấp cứu tại cơ sở y tế; tiền thuốc và tiền mua các thiết bị y tế, chi phí chiếu, chụp X quang, chụp cắt lớp, siêu âm, xét nghiệm, mổ, truyền máu, vật lý trị liệu... theo chỉ định của bác sĩ; tiền viện phí; tiền mua thuốc bổ, tiếp đạm, tiền bồi dưỡng phục hồi sức khỏe cho người bị thiệt hại theo chỉ định của bác sĩ; các chi phí thực tế, cần thiết khác cho người bị thiệt hại (nếu có) và các chi phí cho việc khắc phục thẩm mỹ... để hỗ trợ hoặc thay thế một phần chức năng của cơ thể bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại (nếu có).

- Thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút của người bị thiệt hại. Nếu trước khi sức khỏe bị xâm phạm người bị thiệt hại có thu nhập thực tế, nhưng do sức khỏe bị xâm phạm họ phải đi điều trị và do đó khoản thu nhập thực tế của họ bị mất hoặc bị giảm sút, thì họ được bồi thường khoản thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút đó.

- Chi phí hợp lý và phần thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị.

- Trong trường hợp sau khi điều trị, người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc (người bị thiệt hại không còn khả năng lao động do bị liệt cột sống, mù hai mắt, liệt hai chi, bị tâm thần nặng và các trường hợp khác do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định bị suy giảm khả năng lao động vĩnh viễn từ 81% trở lên) thì phải bồi thường chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại.

- Khoản tiền bù đắp tổn thất về tinh thần do sức khỏe bị xâm phạm.

Thứ hai, nếu chưa đến mức phải chịu trách nhiệm hình sự do không đủ dấu hiệu để khởi tố vụ án hình sự thì trong trường hợp tỷ lệ thương tật đó dưới 11% thì người này chỉ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm e, khoản 3 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống, chống bạo lực gia đình. "Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây: e) Xâm hại hoặc thuê người khác xâm hại đến sức khỏe của người khác;" hoặc theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 5 quy định thì: Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau.

 

 
  • Chia sẻ qua viber bài: HÌNH SỰ

Tin tức Liên quan

Menu tin tức

Bài viết mới

Không có thông tin cho loại dữ liệu này